ZBRUSH TIẾNG VIỆT
Phan Xuân Hòa


Feb 2


1.1. Sứ mạng to lớn của mỹ thuật nói chung và điêu khắc nói riêng.

Sáng tác nghệ thuật là một công việc đặc biệt.

Công việc sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật là một công việc đặc biệt. Vì vậy những tác phẩm nghệ thuật cũng là những sản phẩm đặc biệt.

Vậy những gì đã kết tinh trong sản phẩm nghệ thuật này, mà chúng lại có những tính chất đặc biệt như vậy. Thông thường, một sản phẩm trong xã hội khi được sản xuất ra, giá trị của nó được tính bằng giá trị của chính sức lao động của người sản xuất ra nó. Khi ra thị trường, giá trị của nó được cộng thêm với giá trị sử dụng mà tạo nên giá cả. Từ đây trở đi, tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng thị trường mà giá cả sẽ lên xuống xung quanh giá trị của nó. Nhưng với một sản phẩm nghệ thuật, ngoài những quy luật thông thường nó còn có nhiều giá trị đặc biệt mà người thường khó có thể nhận chân.

Nghệ thuật tạo hình có hai mảng sản phẩm có tính chất khác nhau.

Trong sản phẩm của nghệ thuật tạo hình lại chia làm hai mảng.

Mảng thứ nhất là nghệ thuật phục vụ cho cuộc sống chung của xã hội. Sản phẩm của chúng do chính những người lao động bình thường làm ra phục vụ cho nhu cầu thẩm mỹ của những người lao động bình thường trong xã hội. Sau những giờ làm việc căng thẳng, muốn tụ tập nhau uống trà đối ẩm bên những bộ bình trà độc đáo, với những hoa văn trang trí đẹp đẽ…

Tương tự như vậy, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ra đời để phục vụ nhu cầu của con người, đó là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc tính khác với các tác phẩm nghệ thuật là chúng được nhân bản rất nhiều, mất đi tính cá nhân, riêng lẻ, và đặc biệt là do nghệ nhân (những thợ làm nghề truyền thống lâu năm) và các thợ thủ công mỹ nghệ làm ra.

Chúng có sứ mạng riêng, đó là cuộc sống hóa nghệ thuật. Nghĩa là cố gắng đưa cuộc sống bình thường hiện tại tiệm cận dần với các giá trị Chân Thiện Mỹ. Trong chừng mực phát triển với một quy mô nào đó, nó tạo thành những dòng văn hóa dân gian trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu thưởng thức văn hóa của đại đa số người dân trong xã hội.

Mảng thứ hai chính là các tác phẩm nghệ thuật. Chúng có những tính chất độc bản, có chất lượng nghệ thuật rất cao và mang đầy cá tính. Những tác phẩm này do các nhà sáng tác nghệ thuật chuyên nghiệp như các nhà điêu khắc, họa sĩ sáng tạo ra.

Trong thượng tầng kiến trúc của xã hội, nghệ thuật là một phần quan trọng của văn hóa, bao gồm nhiều lĩnh vực, mà tất cả chúng đều có sự thôi thúc năng lực và tính sáng tạo của con người.

Những lĩnh vực nghệ thuật chính yếu bao gồm:

- Nghệ thuật văn chương (thường gọi là văn chương – bao gồm thơ, tiểu thuyết, và truyện ngắn) và những hình thức khác tương tự.

- Nghệ thuật trình diễn (trong đó có âm nhạc, múa, ảo thuật, kịch nghệ và điện ảnh).

- Nghệ thuật thị giác (bao gồm kiến trúc, điêu khắc và hội họa).

Việc nghiên cứu tính chất của các loại hình nghệ thuật đã được tiến hành từ thời cổ đại. Nhà nghiên cứu nghệ thuật người Đức Max Dessoir (1867 - 1947) phát hiện ra là vào thời "hậu Aristote" người ta đã tách ra 6 loại hình nghệ thuật và căn cứ vào tính chất của chúng xếp thành hai nhóm. Nhóm nghệ thuật tĩnh gồm có kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Nhóm nghệ thuật động (ngày nay gọi là Nghệ thuật trình diễn): gồm có âm nhạc, thơ và múa. Sau này Friedrich Hegel (1770 - 1831) trong "Những bài giảng về Mỹ học", theo một hướng nghiên cứu khác, đã xếp 6 nghệ thuật trên thành hai nhóm:

Nhóm một có kích cỡ vật thể nhỏ dần, gồm: Kiến trúc, điêu khắc và hội họa.

Nhóm hai có khả năng biểu hiện (biểu cảm nghệ thuật) tăng dần, gồm: Âm nhạc, thơ và múa. Điện ảnh chính là ngành nghệ thuật thứ 7 ra đời vào đầu thế kỷ 18. Và phát triển mạnh cho tới tận ngày nay. Như vậy, điêu khắc cùng hội họa đã tồn tại rất lâu từ khi bắt đầu xuất hiện nền văn minh loài người. Trong bảng sắp xếp nào nó cũng đứng hàng thứ hai sau kiến trúc và trên hội họa. Như vậy tầm quan trọng của điêu khắc có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc sống văn minh nhân loại.

Cấu trúc các lớp giá trị của một tác phẩm nghệ thuật.

Một tác phẩm nghệ thuật thường có nhiều lớp tồn ẩn bên trong nội tại của nó. Lớp đầu tiên nhất là giá trị vật chất tạo nên nó, bao gồm nguyên vật liệu, công sức vật chất tạo ra tác phẩm. Giá trị thường không bao nhiêu, và cách thức tạo ra chúng thường không tốn nhiều sức lực. (ví dụ như vẽ một bức tranh, không thể tốn sức hơn một bác thợ rèn khi làm ra một con dao sắt). Nhưng giá trị tinh thần tiềm ẩn tính văn hóa của nó là vô cùng quan trọng và lớn lao.

Ta hãy lấy ví dụ một quả cam để so sánh cho dễ hiểu. Lớp thứ nhất ngoài cùng là một lớp vỏ màu vàng, bất cứ ai nhìn vào, không cần phải suy nghĩ nhiều, chỉ với một chút ít kinh nghiệm cuộc sống cũng có thể nhận thấy hết sức rõ ràng. Đó là nội dung, hình hài, cốt truyện, những gì mắt thấy tai nghe, sờ mó trực tiếp trên tác phẩm, là chất liệu của các tác phẩm hội họa và điêu khắc…

Lớp thứ hai của quả cam là cùi màu trắng, đã ẩn hiện một thông điệp nghệ thuật không phải ai cũng thấy, chỉ những độc giả có trình độ hiểu biết về thưởng thức nghệ thuật, những nhà chuyên môn lý luận mới có thể nhìn và luận giải ra được. Đây là một thông điệp, chủ đề, cảm xúc thẩm mỹ của chính tác giả muốn gửi gắm đến độc giả…

Lớp thứ ba là những múi cam mọng nước, bao bọc những hạt mầm bí ẩn dành cho tương lai. Những vui buồn, chua ngọt hay đắng cay, chỉ có bản thân tác giả mới có thể thấu hiểu. Không dễ gì người bình thường và các nhà chuyên môn có thể hiểu. Ví dụ câu đố bí ẩn trong vở bi kịch Hamlet của nhà soạn kịch vĩ đại người Anh William Shakespeare (1564-1616). Câu đố đó hiện nay chưa ai giải đáp được, nó như một bức màn sương mờ phủ lên toàn bộ tác phẩm. Câu đố này đã được nhà tâm lý học Vugotski đề cập đến trong cuốn Tâm lý học nghệ thuật của ông. Trong giới nghiên cứu nghệ thuật trong và ngoài nước, không ai không biết câu đố bí hiểm này. Nó tồn tại cho đến tận ngày nay và vẫn chưa hề có lời giải đáp. Nó khiến toàn bộ vở bi kịch diễn ra dưới một bức màn sương mù bí ẩn đầy văn hóa của câu đố.

Lớp thứ tư của quả cam là những cái tép và hạt của nó. Đến lớp này thì có khi ngay cả tác giả của nó cũng không thể nhận biết được mà phải là những nhà nghiên cứu xã hội, văn hóa và nghệ thuật đời sau đánh giá, nhận xét, và phát hiện ra chúng mà thôi. Ví dụ rõ nhất là với họa sĩ Vincent van Gogh.

Theo wikipedia.org thì "Thời thanh niên, Van Gogh làm việc trong một công ty buôn bán tranh, sau đó là giáo viên và nhà truyền giáo tại một vùng mỏ nghèo. Ông thực sự trở thành họa sĩ từ năm 1880 khi đã 27 tuổi. Thoạt đầu, Van Gogh chỉ sử dụng các gam màu tối, chỉ đến khi được tiếp xúc với trường phái ấn tượng (Impressionism) và tân ấn tượng (Neo-Impressionism) ở Paris, ông mới bắt đầu thay đổi phong cách vẽ của mình. Trong thời gian ở Arles miền Nam nước Pháp, Van Gogh kết hợp các màu sắc tươi sáng của hai chủ nghĩa này với phong cách vẽ của mình để tạo nên các bức tranh có phong cách rất riêng. Chỉ trong 10 năm cuối đời, ông đã sáng tác hơn 2000 tác phẩm, trong đó có khoảng 900 bức họa hoàn chỉnh và 1100 bức vẽ hoặc phác thảo. Phần lớn các tác phẩm nổi tiếng nhất của Van Gogh được sáng tác vào hai năm cuối đời, thời gian ông lâm vào khủng hoảng tinh thần tới mức tự cắt tai bên trái của chính mình. Sau đó Van Gogh liên tục phải chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh và cuối cùng ông đã tự kết liễu đời mình.”

Như vậy sau khi ông mất, cũng theo wikipedia.org thì "Trường phái Dã thú (Fauvism) như Henri Matisse và các họa sĩ thuộc trường phái Biểu hiện Đức thuộc nhóm Die Brücke. Chủ nghĩa Biểu hiện trừu tượng trong nghệ thuật thập niên 1950 cũng bắt nguồn từ việc phát triển các ý tưởng sáng tác của Van Gogh. Năm 2004, trong Danh sách những người Hà Lan vĩ đại nhất trong lịch sử (De Grootste Nederlander) do đài KRO tổ chức, Vincent Van Gogh được xếp thứ 10 và là nghệ sĩ có thứ hạng cao thứ 2 trong danh sách, sau họa sĩ Rembrandt xếp thứ 9”.

Rõ ràng là ngay khi lúc còn sống, Van Gogh không thể nghĩ những tác phẩm nghệ thuật của mình đã mở đầu cho nhiều trường phái nghệ thuật như thế. Cái lớp giá trị thứ tư bí ẩn đã tác động một cách nhiều mặt và nhiều dạng phong phú đến sự nhận chân, kế thừa và thúc đẩy sự sáng tạo nghệ thuật cho các thế hệ đi sau. Còn rất nhiều những tấm gương khác nữa giống như vậy trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật.

Sứ mạng đặc biệt lưu giữ các nền văn hóa theo thời gian của nghệ thuật tạo hình.

Xã hội đương thời đánh giá một nền văn hóa của quá khứ dựa vào những yếu tố của nghệ thuật tạo hình. Sách vở văn chương không thể tồn tại theo thời gian, do hạn chế kiến thức được viết lên các thẻ tre không thể tồn tại lâu dài với thời gian. Truyền thuyết dân gian qua nhiều đời cũng bị tam sao thất bản. Chỉ còn cách duy nhất là dựa vào điêu khắc và hội họa. Bởi chất liệu tạo ra chúng khá bền vững theo thời gian. Các chất liệu như đá, đồng nguyên chất, các bức vẽ trong hang động, đất nung như gốm sứ… đều còn rất nguyên vẹn như khi chúng mới bắt đầu được tạo ra. Rất nhiều nền văn hóa cổ xưa đã được tìm hiểu, phục dựng qua các tác phẩm điêu khắc, bức vẽ của hang động, cổ vật điêu khắc. Cả một ngành khảo cổ học đã ra đời rất lâu trên thực tế này…Một ví dụ chứng minh rõ nhất là nền văn hóa Hy Lạp rực rỡ với các bức tượng nổi tiếng của nó. Rồi văn hóa Ai Cập với những kim tự tháp.v.v…

Chính vì vậy, các nhà họa sĩ và điêu khắc phải nhận thức được sứ mạng vô cùng to lớn đó. Vì đây chính là sứ mạng của nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tạo hình nói riêng. Đây là một giá trị văn hóa quan trọng, nằm sâu trong lớp giá trị thẩm mỹ thông thường. Mỗi tác giả phải ý thức rõ từ bản thân của mình. Đây có lẽ là một sự đòi hỏi mang tính tự giác chân chính cao nhất của mỗi con người làm nghệ thuật. Sứ mạng này vô cùng to lớn, và không phải bất cứ nghệ sĩ sáng tác nào cũng có thể đáp ứng được. Họ vừa phải vẽ theo các kinh nghiệm cảm xúc của bản thân, lại phải tự nhận thức, cá thể sáng tác của mình là một trong những yếu tố cấu thành nên một giá trị văn hóa của nền nghệ thuật của hiện tại, một đất nước, một khu vực, thậm chí cho cả một nền văn hóa tương lai mai sau.

Muốn làm được những điều này, trong họ phải tồn tại nhiều yếu tố cấu thành, cả khách quan và chủ quan. Đầu tiên, trong con người họ phải có một niềm đam mê khát vọng cháy bỏng vì nghệ thuật, không khó khăn nào có thể cản trở họ trên con đường sáng tác của mình (hay còn gọi là tố chất năng khiếu bẩm sinh). Họ là một con người giàu cảm xúc, và luôn luôn có một nguồn năng lượng bẩm sinh dồi dào nuôi dưỡng cảm xúc đó. Nếu chỉ dừng lại ở đây thì vẫn không thể có khả năng trở thành một nhà nghệ sĩ. Bởi giàu cảm xúc chỉ là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Bởi vì cảm xúc trong con người có hai loại rõ ràng, một loại cảm xúc gọi là khoái cảm, lên xuống theo các dục vọng đời thường vì nhu cầu của bản năng và cuộc sống. Hỷ, nộ, ái, ố dẫn đến tham, sân, si của nhà Phật có thể được ví dụ trong trường hợp này. Sự hân hoan vui mừng vì cơm ngon, rượu ngọt…Sự buồn bã vì mất mát những thứ tầm thường trong cuộc sống… Lồng lộn giận hờn khi thua thiệt, si mê một thứ gì mà mình yêu thích bất chấp lẽ phải. Những thứ đó không thể làm nên tố chất của một nghệ sĩ chân chính. Cái cảm xúc mà người nghệ sĩ cần có ở đây là mỹ cảm, tức là sự rung động từ đáy lòng với cái đẹp trong cuộc sống. Nghe một bản nhạc hay, lòng ta tràn đầy cảm xúc, đọc một câu thơ hay, đối diện với một hoàn cảnh điển hình nào đó trong cuộc sống, thì luôn dậy lên một cảm thông sâu sắc… Bình thường thì cảm xúc này ai cũng có, nhưng với quá trình cuộc sống va chạm, mưu sinh, cảm xúc mỹ cảm đã lần lần bị bào mòn thui chột. Ngay cả với một số nghệ sĩ nổi tiếng, khi cảm xúc bị bào mòn, mạch sáng tác bị đứt quãng, họ phải dùng đến các cảm xúc nhân tạo để tiếp mạch dang dở. Nhà thơ Lý Bạch đã phải dùng đến rượu để tạo cảm xúc, đến nối hình ảnh bầu rượu túi thơ luôn đi cùng thi nhân. Nhà viết truyện kiếm hiệp nổi tiếng Kim Dung, tương truyền mỗi khi viết, ông phải dùng đến thuốc phiện. Và còn nhiều trường hợp khác nữa…

Cảm xúc thẩm mỹ liệu có thể tồn tại mãi với con người được không nếu không có sự nuôi dưỡng, chăm sóc, và phát triển nó. Thật không dễ gì để kéo dài cảm xúc này mãi mãi với con người nghệ sĩ. Người đời đã từng ví người nghệ sĩ như con tằm nhả tơ, rút từng đoạn ruột mình, và rồi đến lúc nào đó, hết tơ, con tằm sẽ chết.

Người nghệ sĩ khi có được cảm xúc thẩm mỹ rồi thì liệu có thể sáng tác được không? Vẫn chưa thể được. Vì nếu chỉ cần có cảm xúc thẩm mỹ thôi, thì hãy nhìn những đứa trẻ lên 5 tuổi. Chúng ta hẳn phải khâm phục chúng vì chỉ với một viên gạch non, chúng có thể vẽ cả ngày, bất kể nơi đâu, trên tường nhà, dưới sân gạch… mà không còn biết gì đến thế giới xung quanh với một niềm đam mê vô hạn. Ngay cả những nghệ sĩ sáng tác cũng rất thèm thuồng những cảm xúc trong vắt, không lợn cợn một chút đắng cay vui buồn của cuộc sống mà chúng chưa phải đối diện. Nhưng hãy nhìn những gì chúng vẽ, quả thật không hề có một giá trị nào về nghệ thuật cả, nội dung hời hợt. Bởi vì chúng thiếu kỹ năng vẽ, nặn (thông thường phải được học trong các trường chuyên nghiệp) và quan trọng nhất là thiếu vốn sống, mà chỉ khi lớn lên, cọ sát, hứng chịu nhiều nỗi cay đắng cuộc đời, mới hàm chứa được nội dung sâu sắc của cuộc sống. Chúng vẽ mà không biết mình đang vẽ cái gì, mục đích gì... Chính vì vậy nếu là những người không có năng khiếu bẩm sinh về nghệ thuật, cảm xúc trân quý này sẽ lụi tàn ngay khi chạm bước vào đời. Hiện nay các cấp giáo dục phổ thông ở Việt Nam đã thực hiện các chương trình dạy hai môn nhạc và họa từ lớp một tới hết phổ thông cơ sở. Đây là một chủ trương hết sức cần thiết nhằm giúp những em học sinh có năng khiếu bẩm sinh được học thêm kỹ năng vẽ và luôn luôn được nuôi dưỡng, chăm sóc các cảm xúc thẩm mỹ. Nếu không có được điều kiện trở thành các nhà nghệ sĩ trực tiếp sáng tác sau này, thì cũng giúp các em một trình độ nhất định nào đó, nhằm giúp xã hội có một đội ngũ khán giả có thị hiếu lành mạnh, xây dựng một môi trường tạo dựng nên giới thưởng thức nghệ thuật, tức những người am hiểu và hâm mộ nghệ thuật. Một lực lượng không thể thiếu trong các hoạt động nghệ thuật văn hóa nói chung, và mỹ thuật nói riêng, mà khi dựa vào đây, nghệ thuật sẽ được phát huy đúng chức năng, và lên ngôi cùng sứ mạng to lớn của nó.

Tóm lại muốn sáng tác được, ta cần phải có những yếu tố như năng khiếu bẩm sinh (khách quan), kỹ năng sáng tác (nhằm nắm bắt cảm xúc và có khả năng đưa cảm xúc trở thành tác phẩm bằng những kỹ thuật đã được học ở những trường nghệ thuật chuyên nghiệp). Vốn sống và sự trải nghiệm của người nghệ sĩ cũng là một yếu tố không thể thiếu. Qua cuộc sống, hai yếu tố kia cũng sẽ được nuôi dưỡng phát triển phục vụ cho quá trình sáng tác.

Cuộc sống chính là bầu sữa mẹ không bao giờ cạn nuôi nấng, tiếp sức cho các cảm xúc thẩm mỹ trong mỗi cá nhân. Qua cuộc sống, trước mỗi hoàn cảnh điển hình nhất định, cảm xúc thẩm mỹ xuất hiện, người nghệ sĩ nắm bắt và dùng các kỹ năng sáng tác được học để thể hiện ý tưởng đó thành tác phẩm nghệ thuật. Trong hầu hết, quá trình sáng tác xảy ra như vậy. Nhưng có những trường hợp đặc biệt. Đó là các bậc vĩ nhân, họ thường tự thắp đuốc mà đi theo con đường riêng của họ chọn. Họ không cần phải học ai cả mà vẫn có những tác phẩm với đầy đủ các giá trị nghệ thuật cùng ẩn chứa sứ mạng mặc định của nghệ thuật. Chúng ta là những bậc thường nhân, vẫn cần phải học tập và kế thừa ánh sáng tri thức và kinh nghiệm sáng tác của họ.

Điển hình là trường hợp của nhà điêu khắc Michelangelo (1475-1564), điêu khắc gia nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật Công Giáo thời Phục Hưng. Cuộc sống và sự nghiệp của ông đã được nhiều người viết và được đưa lên trên hệ thống mạng Internet. Chúng ta có thể tìm hiểu với từ khóa "cuộc sống và sự nghiệp của Michelangelo”. Ông là một trong ba người khổng lồ của giai đoạn đầu thời kỳ Phục Hưng (từ khoảng 1420 đến 500). Hai người kia là các danh họa Leonardo da Vinci và Raffaello.

Như vậy chúng ta đã rõ một quy trình làm việc để sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng công việc tưởng như đơn giản lại không như ta tưởng. Bởi đây là một lĩnh vực hoàn toàn thuần túy về tinh thần. Mà đã là tinh thần thì không thể nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy và hoàn toàn mang tính chất dấu ấn cá nhân. Một tác phẩm nghệ thuật mang trên mình những đặc điểm chung đó nhưng vẫn phải thỏa các tính chất như cá tính, độc đáo về ý tưởng, cách thể hiện, có tác dụng ảnh hưởng lớn lâu dài tới xã hội hiện tại và tương lai… Tác phẩm nghệ thuật không thể sao chép ý tưởng, nội dung (đây là điểm đặc biệt khác với sản phẩm mỹ nghệ có thể nhân bản hàng loạt). Thậm chí nếu là một nghệ sĩ chân chính, ngay cả việc sao chép chính mình cũng là một điều không nên làm, chứ chưa nói tới việc đi sao chép ý tưởng của người khác.

Có lẽ đây là một yếu tố hết sức đặc biệt của nghệ thuật khiến cho việc ấn hành và phát triển các giáo trình hay sách giáo khoa trong các trường chuyên nghiệp nghệ thuật gặp nhiều khó khăn (ngoài những giáo trình nghệ thuật mang tính triết học đầu ngành). Bởi lẽ, bản chất nghệ thuật là luôn sáng tạo ra cái mới, cái riêng, cái mà chưa ai gặp bao giờ. Và những cuốn giáo trình được viết ra lại mang đậm tính cá nhân của người viết, cô đọng, đóng khuôn, đơn điệu và khuôn phép. Liệu có thích hợp với sự phát triển lôgic trong mỗi cá nhân nghệ sĩ khác. Hay nó sẽ lại là một tấm da bịt mắt con ngựa nhằm chỉ cho nó đi theo một con đường duy nhất. Điều này lại mâu thuẫn với bản chất của nghệ thuật.

Nhưng may thay, giáo trình thì ít ỏi, nhưng có rất nhiều sách tham khảo về nghệ thuật có giá trị cao cho mỗi con người, mỗi cá nhân muốn đi tìm bản chất cái đẹp trong nghệ thuật. Để có thể tìm được chân lý và cái đẹp theo các con đường khác nhau của mỗi người. Qua các sách tham khảo, vẫn có những cái chung nhất, những sợi chỉ đỏ (nguyên tắc tâm lý sáng tác chung) xuyên suốt không những trong nghệ thuật thị giác mà cả các ngành nghệ thuật khác như văn chương, trình diễn…Với mỗi một cá nhân nghệ sĩ, có thể có rất nhiều nguyên tắc áp dụng, kể cả những nguyên tắc đã học được, kể cả những nguyên tắc riêng tự đặt ra cho mình mà người khác không thể áp dụng được. Sau đây có thể quy về một số nguyên tắc chung nhất. Những nguyên tắc này đã được tác giả Chu Quang Tiềm đề cập tới trong cuốn Văn nghệ tâm lý học. Đây là một cuốn sách lý luận với tâm lý sáng tác và thưởng ngoạn nghệ thuật, giải quyết được rất nhiều vấn đề nan giải trong lĩnh vực nghệ thuật. Do dịch giả Khổng Đức và Đinh Tấn Dung dịch ra tiếng Việt, đã được Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản vào những năm 80. Những giá trị nó để lại vẫn đầy ắp tính ứng dụng vào công việc xây dựng, phát triển nghệ thuật trong lĩnh vực đào tạo và sáng tác. Sau đây là một số ứng dụng của các nguyên tắc tâm lý đó trong công việc sáng tác điêu khắc khi làm việc trên máy tính và nhất là với phần mềm Zbrush.

Xem tiếp phần 2

loading...


Bài được đọc nhiều nhất

Đăng ký nhận tài liệu hướng dẫn 8 bài tập modeling nâng cao bằng tiếng Việt và các hướng dẫn mới nhất của phiên bản 4R7

RSS

RECENT POSTS



SEARCH



ARCHIVE



TOPICS