ZBRUSH TIẾNG VIỆT
Phan Xuân Hòa


Mar 8


Trong lịch sử nghệ thuật Johannes Vermeer được biết tới như một nghệ sỹ bí ẩn trong nghệ thuật cũng giống như Shakespeare trong văn học và cả 2 nhân vật đều là những con người khó nắm bắt như một nhân vật hư cấu. Khi mới 21 tuổi, Ông đã được tham gia Hiệp hội họa sỹ Hà Lan năm 1653 dù chưa trải qua sự đào tạo hàn lâm chính thức nào. Sau đó, ngay lập tức ông bắt đầu vẽ những tác phẩm kinh điển xác thực nhưng theo một vẻ đẹp kì diệu với những căn phòng tràn đầy ánh sáng và những người phụ nữ thanh nhã. Sau khi mất vào tuổi 43, ông và sự nghiệp nghệ thuật nhỏ bé của mình chìm vào quên lãng trong vòng 2 thế kỷ. Và chỉ khi mà nhiếp ảnh ra đời khiến cho những tác phẩm tranh hiện thực dần trở nên vô nghĩa, thì Con nhân sư của xứ Delft (Sphinx of Delft là nghệ danh mà nhà phê bình nghệ thuật người Pháp Thoré Bürger đã đặt cho Vermeer do Delft là nơi Vermeer đã sống phần lớn cuộc đời) mới được khám phá lại và đột nhiên những tác phẩm của ông trở nên vô giá. Vào thời gian triển lãm đầu tiên tác phẩm của Vermeer ở Mỹ trong Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan năm 1909 giá trị của tác phẩm đã tăng lên gấp 100 lần, và vào năm 1920 thì gấp 10 lần nữa. Dù cho những suy xét trong những năm qua về việc một thiết bị quang học bằng cách nào đó đã giúp Vermeer có thể vẽ những tác phẩm của mình. Về khía cạnh lịch sử nghệ thuật, các nhà nghiên cứu vẫn kiên quyết trong niềm tin lãng mạn rằng: có lẽ ông ấy đã được truyền cảm hứng một cách nào đó bởi những hình ảnh được chiếu bằng ống kính, còn khả năng phi thường trong sáng tác nghệ thuật của Vermeer vẫn nằm ở đôi mắt đáng kinh ngạc cũng như khả năng thiên bẩm của ông.

17.1 

Camera Obscura , một cách ghi hình bằng phương pháp quang học

Đến tận đầu thế kỷ 20, nó vẫn là điều tốn nhiều giấy mực. Một số chuyên gia về vấn đề này vẫn đang không ngừng đưa gia các giả thuyết cũng như sự khác biệt giữa khả năng ghi nhận tự nhiên của họa sỹ với sự ghi nhân bằng một phương pháp quang học. Ví dụ như tại sao Vermeer lại vẽ nổi bật phần cận cảnh và sáng bóng của những đồ vật có vẻ hơi bị ngoài tấm ngắm? Bởi vì, họ phỏng đoán, ông đang nhìn đồ vật qua một ống kính. Với tác phẩm "Máy ảnh của Vermeer: Khám phá sự thật đằng sau những kiệt tác” do một giáo sư kiến trúc London tên Philip Steadman thực hiện, có thể đã dấy lên những tranh luận hàn lâm ở một góc độ chuyên môn rất hẹp. Đáng chú ý hơn nữa khi có sự lên tiếng của David Hockney danh họa lừng danh thời này. Những công kích đã xuất hiện trong cả những hội thảo chính thống và những Tạp chí chuyên ngành. Hockney đưa ra các luận điểm trong tác phẩm "Tri thức bí mật: Khám phá lại những kĩ thuật đã mất từ những bậc thầy cổ điển” để chứng minh rằng không chỉ Vermeer mà rất nhiều họa sỹ vĩ đại từ thế kỷ 15 trở đi hẳn đã bí mật sử dụng ống kính và gương để đạt được hiệu ứng ghi nhận hình ảnh giống thật nhất trong tác phẩm của họ. Và trong hơn 100 năm, có rất nhiều tranh cãi cho rằng nghệ sỹ vĩ đại người Hà Lan thế kỷ 17 Johannes Vermeer đã sử dụng phương thức camera obscura để hỗ trợ cho việc vẽ tranh của mình. Camera obscura chính là tiền thân của máy chụp ảnh hiện đại nhưng không dùng phim hay dạng tấm kim loại. Và câu hỏi về việc liệu Vermeer có sử dụng phương pháp này không vẫn luôn gây nên rất nhiều tranh cãi.
Camera Obscura là gì?

Trong tiếng Latin, khái niệm ‘camera obscura’ có nghĩa là ‘căn phòng tối’, bởi những thiết bị cho tới thế kỷ 16 vẫn trông giống một căn phòng kín, cửa sổ thì đóng, với chỉ một lỗ nhỏ trên rèm hay trên cửa. Ánh sáng vào trong phòng qua lỗ và tạo nên một hình ảnh lên màn chiếu hay trên bức tường đối diện. Một vẫn đề nữa là hình ảnh như trong một máy ảnh ‘pinhole’ (một loại máy ảnh đơn giản không có ống kính chỉ có lỗ ống kính đơn giản và lỗ ngắm), vậy nên hình ảnh hiện lên dù cho là một phong cảnh mùa hè đầy nắng cũng trở nên rất mờ. Đối tượng duy nhất hiện lên rõ nét chính là bản thân mặt trời. Thật sự đây vẫn là ứng dụng thực tiễn duy nhất của máy ảnh cho tới tận những năm 50: để cho các nhà thiên văn quan sát hệ mặt trời mà không làm hại mắt. Bản vẽ minh họa đầu tiên của máy ảnh được xuất bản là một cuốn sách từ năm 1545 do một nhà toán học người Hà Lan và thiên văn học Gemma Frisius. Bản vẽ minh họa một hiện tượng nhật thực do Gemma Frisius ở Louvain năm trước đó. Và mọi sự thay đổi vào giữa thế kỷ 16, khi con người khám phá ra rằng họ có thể thay thế những ống kính thủy tinh cho những lỗ ngắm (pinhole). Thường thì chúng là những ống kính lồi vào thời điểm đó hay được sử dụng để điều chỉnh tầm nhìn xa. Hai tác giả người Venice (Italia) đã đưa ra những mô tả rõ ràng về máy ảnh gần như cùng một thời điểm với ống kính lồi là Daniel Barbaro năm 1568 trong một một chỉ dẫn cho kiến trúc sư và họa sỹ, và GB Benedetti trong một văn bản toán học năm 1585. Những tác giả này đã mô tả làm thế nào có thể vẽ từ hình ảnh của camera bằng cách truy tìm lại những đường nét trên màn hình giấy. Nhiều người còn cho rằng có khả năng đặt màu vào những hình ảnh được chiếu lên, dù cho ý tưởng này ít có khả năng. Và lại dẫn tới câu hỏi làm thế nào bạn có thể thấy màu vẽ trong bóng tối của căn phòng kín? Một hình ảnh của một loại máy ảnh cơ bản cùng với ống kính đã được xuất bản trong cuốn sách Nghệ thuật vĩ đại của ánh sáng và bóng tối của một học giả dòng Tên (Jesuit) Athanasius Kircher năm 1646. Nó là một sơ đồ khá lập dị, nhưng đầy đủ nguyên lý. Trong thiết kế này hình ảnh được chiếu lên một màn hình mờ, có thể được làm từ giấy dầu hay thủy tinh, và người nghệ sỹ nhìn vào phía xa bên kia của hình chiếu, xa khỏi toàn cảnh - sự sắp xếp này được bậc thầy Leonardo Da Vinci đưa ra đầu tiên. Điều này có lợi thế là khiến cho người sử dụng không làm ảnh hướng tới đường đi của ánh sáng. Hầu hết những tài liệu về camera obscura đều có sẵn khi Vermeer làm việc, vào quãng 3/4 thế kỷ 17, mô tả những dụng cụ có hình dáng của căn phòng kín, như lều hay phòng biệt lập (giống như thiết kế của Kircher), mà người sử dụng có thể làm việc bên trong. Cũng có những ý kiến cho rằng có thể Vermeer đã sử dụng một dạng máy ảnh được chế khá đặc biệt, có thể đã tồn tại vào thời điểm này, và chỉ được sản xuất với số lượng lớn vào thế kỷ 18 và 19, có hình dáng như một chiếc hộp kín, với màn hình mờ bên ngoài. Người quan sát ở bên ngoài chiếc hộp, chứ không phải bên trong. Cả máy ảnh của Canaletto và Reynold đều thuộc loại này. Một vấn đề khác so sánh với loại máy ảnh trong căn phòng là hình ảnh được nhìn thấy dưới ánh sáng của môi trường xung quanh sẽ trở nên ít sáng hơn hình ảnh thật. Fox Talbot (người Anh) và Niépce, Dague (hai nhà nhiếp ảnh tiên phong Pháp) phát minh ra những máy ảnh đầu tiên bằng cách sửa đổi những camera obscura được sản xuất thương mại vào thời điểm đó.

17.2 

Viên sỹ quan và cô gái cười của J.Vermeer

 Mối liên hệ của Camera Obscura với tác phẩm của Vermeer. Tại sao mọi người lại tưởng tượng rằng Vermeer hẳn đã sử dụng một chiếc máy ảnh? Chưa có bất kì bằng chứng hay tài liệu nào để minh chứng cho ý tưởng này. Nguồn thông tin duy nhất chỉ là ở trong bản thân những tác phẩm của chính nghệ sĩ. Người đầu tiên đưa ra giả thuyết này, vào năm 1891, là một nghệ sỹ đồ họa người Mỹ Joseph Pennell, người đã chỉ ra thứ mà ông gọi là "quan điểm chụp ảnh” trong tác phẩm Viên sỹ quan và cô gái cười /Officer and Laughing Girl. Hai hình người ngồi rất gần với nhau bên góc bàn. Nhưng hình ảnh của đầu người sỹ quan lại lớn gấp hai lần so với cô gái cười. Điểm nhìn chính xác một cách hoàn hảo theo khía cạnh hình học: sự thiếu nhất quán này xuất phát từ điểm nhìn của bức tranh gần hơn với người lính. Ngày nay chúng ta khá quen thuộc với những vật thể cận cảnh trông sẽ rất lớn so với tương quan của những vật thể khác. Nhưng đối với hội họa thế kỷ 17, điều này khá bất thường, và những nghệ sỹ cùng thời với Vermeer thường vẽ những hình dáng trong bố cục mà hai hình người sẽ có kích thước gần bằng nhau. Lý do thứ hai để gợi ý về việc sử dụng camera obscura của Vermeer liên quan tới những bản đồ mà ông treo trên tường trong một số tranh. Chúng là những bản đồ in trên giấy và được dán vào nhau ở mặt sau những tấm toan. Nhà lịch sử nghệ thuật James Welu đã xác định tất cả những bản đồ và quả cầu trong tranh của Vermeer và tìm thấy những phiên bản còn tồn tại trong các bảo tàng và thư viện. Nếu bạn nhìn vào phiên bản sao chép của bản đồ Hà Lan trong tác phẩm Viên sỹ quan và cô gái cười, thì ngay lập tức nó khá rõ ràng rằng Vermeer đã sao chép lại nó cực kì chính xác. Nhưng liệu việc này có được thực hiện nhờ tới sự hỗ trợ của camera obscura hay không? Thiết bị này đã được sử dụng rất rộng rãi vào thế kỷ 18, 19 trước khi nhiếp ảnh dùng để sao chép các bản in hay ảnh, cũng như dùng để phóng to hay thu nhỏ chúng. Liệu Vermeer cũng đã từng dùng tới nó vào thế kỷ 17? Chúng ta cũng có thể thừa nhận một giả thuyết rằng Vermeer đã có thể đạt được "cái nhìn nhiếp ảnh” và bản sao chính xác của những bản đồ bởi những phương pháp khác chứ không phải bằng việc tìm những hình ảnh từ máy camera. Tuy nhiên, những học giả cũng chỉ ra những hiệu ứng trên những bức tranh sơn dầu của Vermeer mà dường như có nhiều dấu hiệu đặc biệt của cách làm việc liên quan tới quang học. Ví dụ, rất hiển nhiên rằng có vài phần mà dường như Vermeer đã vẽ rất mềm mại, giống như trong bức mang tên Cô gái với chiếc mũ đỏ/ Girl with a red hat. Có thể thấy những chiếc đầu sư tử điêu khắc, mà chúng ta biết từ những bức tranh khác là những hình trang trí trên lưng ghế. Vermeer có cách thức rất đặc trưng để biểu hiện những những điểm nổi bật trên bề mặt phản chiếu như đồ gốm, đỗ gỗ đánh bóng - hay như trong trường hợp này - đồng được đánh bóng. Trong thực tế, điểm nổi bật sẽ có hình dáng như nguồn ánh sáng mà nó phản chiếu. Vì Vermeer vẽ tranh trong nhà, nguồn ánh sáng chỉ có thể từ cửa sổ; và kết quả là những điểm nổi bật trong thực tế sẽ có hình chữ nhật, có thể bị méo mó thành hình có bốn mặt với các cạnh cong.

17.3

 Cô gái đội mũ đỏ của J. Vermeer

17.4

Cô gái đội mũ đỏ của J. Vermeer

 Tuy nhiên ở đây, Vermeer lại có xu hướng vẽ những điểm nổi bật trên đầu sư tử như những vòng tròn thật. Và có những gợi ý cho rằng những gì ông ấy thực hiện là bắt chước những hiệu ứng ngẫu hiên của những hình ảnh quang học hơi lệch ống ngắm? Điều xảy ra ở đây là ống kính đã lan toả điểm sáng vào những vòng tròn không chính xác. Những hiệu ứng này không thể được nhìn thấy bằng mắt thường. Nhà sử học nghệ thuật Charles Seymour và nhiếp ảnh gia Henry Beville đã cố gắng thử tái tạo lại hiệu ứng này bằng cách chụp ảnh một đầu sư tử trang trí giống như vậy trong một chiếc máy ảnh hơi bị lệch ống ngắm, với những trùng lặp khá thuyết phục). Một vài tác giả bao gồm cả Seymour, đã cho rằng Vermeer đã vẽ bức tranh này và một bức chân dung nhỏ nữa, Cô gái với cây sáo/ Girl with a flute, sử dụng một máy ảnh hộp. Kích cỡ của cả hai bức tranh giống như kích thước của một màn hình máy ảnh hộp điển hình. Một tác giả gần đây công bố những phát hiện mới về một loại máy ảnh của Vermeer vào năm 2001. Cuốn sách này mô tả một phân tích về hình học ba chiều của những căn phòng được mô tả trong một vài tác phẩm mà Vermeer đã thực hiện. Kích thước có thể được xác định với độ chính xác từng trường hợp từ những đồ vật thật mà Vermeer đã cho vào tác phẩm - không chỉ ở những bản đồ, mà cả ở những nhạc cụ, và cả những thiết kế bàn ghế (một trong số chúng là thiết kế trang trí đầu sư tử), ví dụ có thể tìm thấy ngày nay trong những bảo tàng ở Hà Lan. Vị trí của bức tường phía sau của căn phòng - đằng sau chúng ta, những người xem, và đằng sau Vermeer khi ông vẽ - có thể xác định được từ phản chiếu trong một tấm gương mà ta thấy trong tác phẩm Giờ học nhạc/ The music lesson. Vị trí điểm nhìn chính xác của Vermeer có thể được xác định cho từng bức một trong cả chục bức tranh. Mỗi thứ hữu hình trong một bức tranh hẳn phải chứa một "kim tự tháp trực quan” - một kim tự tháp trên mặt của nó - mà đỉnh là điểm nhìn của bức tranh. Hoàn toàn có thể xác định vị trí của các đường dốc hình thành kim tự tháp này. Giả sử những dòng ánh sáng này được tiếp tục trở lại, qua điểm nhìn, để gặp ở bức tường phía sau trong phòng. Chúng tạo nên một khu vực hình chữ nhật trên bức tường đó. Điểm mấu chốt mà cuốn sách phát hiện ra là, trong ít nhất hơn nửa tá trường hợp, hình chữ nhật này hầu hết có chính xác kích cỡ với bức tranh tương ứng. Kết quả kì lạ này không thể nói là do tình cờ. Việc giải thích trong cuốn sách rằng điều này là kết quả do Vermeer đã sử dụng một camera obscura loại buồng tối đơn giản, mà ông đã chiếu hình ảnh quang học lên bức tường phía sau căn phòng của mình. Những bức tranh sơn dầu của ông có cùng kích cỡ với những hình ảnh này? bởi vì ông đã lần theo nó? Những phát hiện này đã được thực hiện, như mô tả, qua một phân tích đồ thị của điểm nhìn hình học của tác phẩm. Chúng cũng được thử nghiệm, theo hiệu hướng, qua một con đường thứ hai, qua việc xây dựng một mô hình với tỉ lệ 1:6 của căn phòng, mà có thể khiến cho những mô phỏng ảnh của một số tranh, và xem xét kĩ hơn nữa những câu hỏi về màu sắc, ánh sáng, bóng tối. Cuốn sách đã có thể thuyết phục rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, ngay cả những người đã từng cực kì hoài nghi về lý thuyết camera obscura. Nhưng dù có thế đi chăng nữa, một số chuyên gia về Vermeer luôn tin rằng giới nghệ thuật nói chung sẽ còn tiếp tục ghi nhận những điều thú vị về giá trị nghệ thuật cũng như chứng kiến những lần móc hầu bao kỷ lục cho tác phẩm của Ông.

17.5

 J. Vermeer, Giờ học nhạc, sơn dầu

Vermeer vẫn luôn là nghệ sỹ bậc thầy được nhắc tới nhiều nhất trong lịch sử nghệ thuật hoàng kim của Hà Lan. Tuy nhiên trong suốt thời gian còn sống, tên tuổi của ông không hề được biết đến cũng như không bán được quá nhiều tác phẩm. Thậm chí ông qua đời trong cảnh đói nghèo với rất nhiều gánh nặng nợ nần cho vợ con. Ngày nay, các tác phẩm của ông là cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm nghệ thuật và văn hóa đại chúng như trong tác phẩm Đi tìm thời gian để mất của nhà văn Pháp nổi tiếng Marcel Proust, nhân vật nam chính cũng nghiên cứu về nghệ thuật của Vermeer, hay như cuốn sách và bộ phim cùng tên Cô gái đeo hoa tai ngọc trai lấy cảm hứng từ tác phẩm cùng tên Vermeer, thậm chí nhà soạn nhà người Hà Lan Louis Andriessen còn cho ra đời tác phẩm mang tên Viết cho Vermeer một vở opera dựa trên cuộc đời của Vermeer... Bên cạnh đó những tranh luận về việc liệu Vermeer có thực sự sử dụng công cụ hỗ trợ để vẽ tranh vẫn chưa đến hồi kết. Và tất cả những gì chúng ta biết về lịch sử chỉ là Vermeer không hề được đào tạo hàn lâm, cũng gần như không sử dụng phác thảo cho tranh và những tài liệu tìm được kê khai tài sản khi người nghệ sỹ qua đời thì không hề nhắc đến bất kì thiết bị nào tương tự, tất cả vẫn còn là ẩn số.

                         Đỗ Tường Linh

 (Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 3/2014)

loading...


Bài được đọc nhiều nhất

Đăng ký nhận tài liệu hướng dẫn 8 bài tập modeling nâng cao bằng tiếng Việt và các hướng dẫn mới nhất của phiên bản 4R7

RSS

RECENT POSTS



SEARCH



ARCHIVE



TOPICS